Kỹ thuật trồng cây hồ tiêu
 
Khởi tạo: Lê Hải Linh, 10/01/2013 08:27
Số lần cập nhật: 12; Lần sửa cuối: 18/03/2013 10:21
  Chia sẻ trên facebook   Chia sẻ trên twitter   Gửi email   Xem bản in của bài viết để in ra
       240px-Piper_nigrum_drawing_1832.jpg
Cây hồ tiêu thuộc bộ Piperales, họ piperaceae  
       Đặc tính sinh học: Tiêu có nguồn gốc ở vùng Ghats miền Tây Ấn Độ, ở đây có nhiều giống tiêu hoang dại, mọc rất lâu đời. Sau đó, tiêu được người Hindu mang tới Java (Indonesia) vào khoảng 600 năm sau công nguyên. Cuối thế kỷ 12, tiêu được trồng ở Mã Lai. Đến thế kỷ 18, tiêu được trồng ở Srilanka và Campuchia. Vào đầu thế kỷ 20 thì tiêu được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới như Châu Phi với Mandagasca, Nigieria, Congo và Châu Mỹ với Brazil, Mexico...Tiêu du nhập vào Đông Dương từ thế kỷ 17 nhưng mãi đến thế kỷ 18 mới bắt đầu phát triển mạnh khi một số người Trung Hoa di dân vào Campuchia ở vùng dọc bờ biển vịnh Thái Lan như Konpong, Trach, Kep, Kampot và tiêu vào Đồng bằng Sông Cửu Long qua ngõ Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang, rồi sau đó lan dần đến các tỉnh khác ở miền Trung như Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị…
       Mô tả: Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có mầu đỏ. Từ quả này có thể thu hoạch được hồ tiêu trắng, hồ tiêu đỏ, hồ tiêu xanh và hồ tiêu đen. Đốt cây rất dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có một hạt duy nhất.

Giống và thời vụ trồng

Giống

Hiện nay trên thế giới có khoảng 80 giống tiêu chia làm hai nhóm là nhóm lá to và nhóm lá nhỏ. Việt Nam hiện có các giống tiêu địa phương như tiêu Quảng Trị, tiêu sẻ, Tiêu Di Linh, tiêu Bà Rịa, tiêu phú Quốc, tiêu Trầu. Các giống nhập nội như Campot, Nam vang, Lada Belangtoeng

Ở Việt Nam có các loại giống hồ tiêu chủ yếu sau:
          - Giống tiêu lá cỡ trung bình: nguồn gốc có thể từ giống Lada Belangtoeng, giống này có nguồn gốc từ Indonexia và di thực vào Việt Nam năm 1947. Từ đó, giống này có thể mang nhiều tên địa phương khác nhau: Nam Vang, Phú Quốc, Lộc Ninh, Vĩnh Linh và nhiều tên gọi khác. Giống có cỡ hạt lớn trung bình, chiều dài chùm quả trung bình 11cm.
          - Giống tiêu sẻ:lá nhỏ, chùm quả ngắn, màu xanh của lá không đậm như giống tiêu Lada Belangtoeng, chiều dài chùm quả trung bình khoảng 8cm, hạt nhỏ hơn giống tiêu có cỡ lá trung bình. Giống có tên gọi theo địa phương như tiêu sẻ Lộc Ninh, tiêu sẻ Đất Đỏ, tiêu sẻ Mỡ.
         - Tiêu trâu: lá lớn, chùm quả dài, hạt lớn nhưng năng suất không cao bằng hai giống tiêu lá trung bình và lá nhỏ.
        - Tiêu Ấn Độ: Hiện nay giống này được ưa chuộng vì chùm quả dài, đóng hạt dày, năng suất cao, cho thu hoạch sớm, hai giống chủ lực là Panniyur và Karimunda.

Thời vụ trồng

Thay đổi theo các vùng khác nhau

- Miền trung ( Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế trồng vào tháng 8-9 khi hết

gió Lào, thu hoạch tháng 2-3

- Tây Nguyên trồng vào tháng 5-7, thu hoạch tháng 12-1

- Miền đông nam bộ trồng tháng 4-8 thu hoạch tháng 1-4

- Miền tây nam bộ trồng tháng 6-9 thu hoạch tháng 2-3

Kỹ thuật nhân giống

Hom giống:

- Cành tược (dây thân): tiêu trồng từ cành tược mau cho quả lớn, thường năm thứ ba sau khi trồng, năng suất cao và tuổi thọ kéo dài 15-20 năm, tỷ lệ hom sống đạt cao (khoảng 90%).
- Cành lươn: tiêu trồng từ cành lươn cho quả chậm hơn và phải đôn tiêu, thường từ năm thứ 4 sau khi trồng. Tuy vậy cây tiêu cho năng suất cao, ổn định và lâu già cỗi.

Kỹ thuật cắt hom:

Lấy hom bánh tẻ, không quá non và không quá già, mỗi hom có 4-6 đốt, thông thường 5 đốt, không sử dụng đoạn hom cách ngọn 20-25cm.
Cắt hom tiêu vào mùa mưa, trên cây mẹ 1-2 năm tuổi. Cắt chừa gốc một đoạn 40-50cm và không làm tổn hại đến cây mẹ và hom giống, phần dưới của hom cắt xéo cách đốt cuối cùng khoảng 2cm, cắt bỏ những lá ở đốt được vùi vào đất và chỉ để lại 2-3 lá để giảm bớt sự thoát hơi nước của hom. Hom tiêu cắt xong cần ươm ngay, nếu vận chuyển đi xa cần bó mỗi bó 50 hom, đặt trong thùng xốp, phun nước đều.

Xử lý hom giống:

Để hom tiêu mau ra rễ, trước khi giâm hom tiêu được ngâm trong dung dịch NAA nồng độ 500-1.000ppm hoặc IBA nồng độ 50-55ppm, nhúng ngập phần gốc 2-3cm trong 30 phút, xử lý dung dịch nước tiểu bò 25% cho kết quả tương tự IBA.

Ươm hom:

Sau khi xử lý xong có thể ươm hom vào luống hoặc vào bầu.
- Luống: có chiều dài 5-6m, rộng 1-1,2m, đất trên luống cần trộn đều phân theo liều lượng 25-30kg phân chuồng hoai + 0,5kg super lân cho 10m2 luống. Ươm hom cách hom 15-20cm, luống phải có mái che, hệ thống phun sương để tạo độ ẩm thích hợp cho tiêu ra rễ.
- Bầu: có thể dung bầu PE hoặc giỏ tre, bầu có kích thước dài 23-25cm, rộng 13-17cm, bầu PE được đục 8-10 lỗ để dễ thoát nước. Đất vào bầu có thành phần: 2 phần đất tơi xốp + 1 phần phân chuồng hoai, trộn đều 0,5kg phân Super lân cho 200kg hỗn hợp đất và phân chuồng, mỗi bầu ươm 2 hom.

Đất trồng cây hồ tiêu

Loại đất và kỹ thuật làm đất

Cây hồ tiêu thích đất ẩm mà không chịu úng, úng là điều tối kị với cây hồ tiêu vì rễ cây hồ tiêu ăn cạn nên đòi hỏi đất có tầng đất mặt tơi xốp giàu có chất hữu cơ.
             Cây hồ tiêu có thể trồng được trên nhiều chân đất khác nhau như đất đỏ bazan, saphiến thạch phù sa bồi tù.... nhưng đất phải tơi xốp đủ ẩm không được ngập ứng.
             Tầng đất dày tơi xốp, độ sâu 50-100 cm có nhiều mùn. Đất có khả năng giữ nước cao và thoát nước tốt. Độ pH 5,5-7 nếu đất chua phải bón vôi để cải tạo ở các nơi có gió lớn phải trồng cây che chắn gió

Đất trồng tiêu sau khi khai hoang được làm tơi xốp ở độ sâu 40-50cm. Đất trồng tiêu có độ dốc 4-5 độ cần làm rãnh thoát nước giữa các hàng tiêu, đất có độ dốc trên 8 độ phải trồng tiêu theo đường đồng mức. Đất cần được cày bừa kỹ và xử lý mầm bệnh trước khi trồng, trên đất chua cần bón vôi trước khi bừa lần cuối, lượng vôi bón khoảng 1,5-2,0 tấn/ha đá vôi xay.

Kỹ thuật đào hố

            Đào 1 hố hoặc 2 hố 2 bên cây trụ tạm, ở phía xa cây trụ sống, mép hố cách trụ tạm 10 – 15 cm, sao cho tâm hố là vị trí đặt bầu tiêu hay dây tiêu cách cây trụ sống từ 40 – 50cm.

            Kích thước hố thường 30x40x40cm cho hom đơn hoặc 40x40x40cm, mỗi hố bón      7-10kg phân chuồng hoai + 200-300g phân supe lân, trộn đều với lớp đất mặt cho vào hố khoảng 20cm. Nên tiến hành đào hố và trộn phân lấp hố trước khi trồng ít nhất nửa tháng. Đất trồng tiêu cạnh những vườn tiêu bị bệnh nên dùng Bordeaux 1% tưới trong và quanh hố. Vườn tiêu trên vùng đất có độ dốc nên đào hố theo đường đồng mức và bố trí hố theo hình nanh sấu.

           Thiết kế hệ thống tiêu nước và trồng trụ tiêu cùng lúc, khoảng 10-15m đào một rãnh thoát nước vuông góc với hướng dốc chính, rãnh sâu 15-20cm, rộng 20cm, giữa hai hàng trụ tiêu. Dọc theo hướng dốc chính, khoảng 30-40m, thiết kế một mương sâu 30-40cm, rộng 40cm, giữa hai hàng trụ tiêu, mương thẳng góc với rãnh thoát nước.

Trồng và chăm sóc cây con

Kỹ thuật trồng cây con 

Trồng bằng bầu:

Khi đặt hom tiêu vào hố cần chú ý:
          - Xé bỏ bầu PE, tránh làm vỡ bầu sau đó lấp đất và nén chặt gốc.
          - Hom đặt riêng 30-450 hướng về phía trụ tiêu, nên đặt hom (bầu) vào hướng Đông.
          - Số hom (hoặc bầu) trên một trụ: 2 hom/trụ cho trụ sống hoặc trụ bê tông và 5-6 hom/trụ cho bồn gạch xây.
Sau khi dây tiêu đã phát triển vươn tới trụ nên dùng các loại dây mềm (dây nylon) để buộc dây tiêu vào cây trụ, buộc vào vị trí ở gần đốt của dây tiêu để rễ dễ bám bào trụ, sau khi rễ đã bám chặt vào trụ cần cắt bỏ dây buộc.

Trồng bằng hom

Dùng hom thân 5 mắt đã ươm ra rễ, đặt hom xiên với đất mặt 450, đầu hom hướng về phía trụ, chôn 3 mắt vào đất, chừa trên mặt đất 2 mắt, dậm chặt đất quanh hom. Trồng tiêu xong phải dùng vật liệu phù hợp như lá dừa, líp cỏ che bổ sung cho hom tiêu mới trồng.

Kỹ thuật chăm sóc cây con

Xới đất quanh trụ tiêu thành rãnh sâu 7-10cm, cách trụ 15-20cm, chọn 3-4 dây tiêu khỏe. Sau 7 – 10 ngày trồng tiêu bằng bầu, 2 – 3 ngày trồng tiêu bằng hom thân nếu trời không mưa phải tưới nước cho dây tiêu.

Mật độ, khoảng cách trồng

Đối với trụ đúc và trụ gỗ

             Trồng 2 hom hay 2 bầu tiêu/trụ, có thể đào 1 – 2 hố/trụ để trồng.

Đối với trụ gạch

              Đào 6 – 7 hố chung quanh trụ, mép hố cách mép trụ 10 – 15cm. Hố được đào với kích thước 40x40x40cm để trồng 1 hom. Nếu trồng 2 hom/hố, kích thước hố đào là 40x80x40cm. Trộn đều đất mặt với 10 – 15kg phân chuồng, 0,2-0,5kg phân lân, 0,2 – 0,3kg vôi bột và lấp xuống hố. Xử lý đất trong hố trước khi trồng bằng 1 trong các loại thuốc như Confidor 100 SL 0,1%, 0,5 lít/hố hoặc Basudin 10 H,  20 – 30 g/hố. Việc trộn phân lấp hố và xử lý đất trong hố được thực hiện trước khi trồng tiêu trồng tiêu ít nhất là 15 ngày.

            Làm giàn che nắng và chắn gió: Trước khi trồng tiêu, làm giàn che phía trên và xung quanh bằng các vật liệu như lưới ni lông, lá dừa, cỏ v.v.. sao cho 70 – 80% ánh sáng tự nhiên đi qua.

Phân bón

Phân bón và phương pháp bón phân

Phân hữu cơ:

             Bón hàng năm với liều lượng 30 – 40m3/ha. Nếu không có phân hữu cơ có thể sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh bón cho vườn tiêu với liều lượng từ 2 – 3kg/trụ/năm

Vôi:       
              Bón vôi cho vườn tiêu với liều lượng 500kg/ha/năm. Vôi được bón bằng cách tung đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu
hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón cho tiêu.
Phân khoáng:

Bảng 1: Định lượng tạm thời lượng phân bón khoáng cho hồ tiêu

Năm

Kg /ha/năm

gr/trụ/năm

 

Urê

SA

Lân VĐ

KCl

Urê

SA

Lân VĐ

KCl

Trồng mới

Năm 2

Năm 3

Kinh doanh

150

350

550

750

50

150

250

300

1000

1000

1000

1000

70

170

500

700

75

180

270

370

25

75

120

150

500

500

500

500

35

80

250

350

Urê và Kali clorua:

Năm trồng mới bón 3 – 4 lần, lần đầu sau khi trồng tiêu 1 tháng, sau đó 2 tháng bón 1 lần. Các năm tiếp theo Urê và Kali clorua được bón 5 lần, mùa khô bón 2 lần kết hợp với tưới nước, mùa mưa bón 3 lần: đầu, giữa và cuối mùa mưa. Phân SA bón vào đầu mùa mưa.

Phân lân:

Có thể dùng lân nung chảy hay Super lân. Lân nung chảy bón 1 lần vào đầu mùa mưa, Super lân thì chia làm 2 lần bón: lần 1 vào đầu mùa mưa, lần 2 vào giữa mùa mưa.

Nếu dùng phân NPK hỗn hợp thì dùng các loại và liều lượng sau

Bảng 2: Loại và liều lượng NPK hỗn hợp bón cho tiêu

Năm tuổi

Loại

Liều lượng (kg/trụ)

Năm trồng mới

16-16-8 hoặc 20-20-15

0,2 – 0,3

Năm thứ 2

16-16-8 hoặc 20-20-15

0,5 – 0,6

Năm thứ 3

16-16-8 hoặc 20-20-15

0,6 – 0,8

Các năm KD

15-10-15 hoặc 16-8-16

1,3 -1,5

Phân bón lá:

Sử dụng các loại phân bón lá có có vi lượng như  Zn, B làm giảm được tỷ lệ rụng gié quả. Phân bón lá được phun 2 – 3 lần trong mùa mưa.

Chăm sóc và phòng chống dịch hại

Quá trình chăm sóc

Trồng cây đai rừng, cây che bóng:

Cây đai rừng: Tiêu trồng theo kiểu nông hộ, diện tích dưới 0,5 ha, chỉ cần trồng 1 hàng muồng đen ở đầu lô chắn hướng gió chính.

Cây che bóng :

Tiêu trồng với cây trụ chết như trụ gỗ, bê tông, trụ gạch cần được trồng cây che bóng lâu dài. Cây keo dậu được trồng với khoảng cách 6 x 12m, trồng sát vào vị trí trụ trong vườn tiêu để vừa là trụ cho tiêu leo vừa là cây che bóng. Các vườn tiêu đã trồng trên trụ chết như trụ gỗ, trụ đúc, trụ gạch mà chưa có cây che bóng cần phải được trồng bổ sung cây keo dậu với mật độ 120 – 150 cây/ha. Tiêu trồng với cây trụ sống đã có bóng mát. Chú ý rong tỉa hợp lý cây trụ sống và cây bóng mát.

Làm cỏ, buộc dây

Làm sạch cỏ trong gốc tiêu thường xuyên, nhổ cỏ gốc bằng tay, tránh làm tổn thương vùng cổ rễ. Thường xuyên buộc dây tiêu vào trụ,

Xén tỉa tạo hình cơ bản

* Đối với tiêu trồng bằng dây thân:

Sau 1 năm trồng, cắt tạo hình cho tiêu bằng cách cắt ngang toàn bộ dây thân trên trụ, cách gốc tiêu 25 – 30 cm. Cắt tạo hình với mục đích vừa lấy hom nhân giống vừa tạo khung thân dây tiêu trên trụ. Cắt dây tiêu vào các ngày khô ráo, không cắt trong thời gian mưa dầm để hạn chế các loại bệnh hại tiêu. Từ chỗ cắt sẽ mọc lên các dây thân chính. Giữ lại các dây thân khoẻ mạnh phân bố đều chung quanh trụ làm bộ khung chính, vặt bỏ các mầm dây thân còn lại. Số lượng dây thân để làm bộ khung chính phụ thuộc vào kích thước trụ.
- Trụ sống : 9 – 12 dây thân/trụ
- Trụ gỗ hay trụ bê tông : 8 – 10 dây thân/trụ
- Trụ xây gạch: 20 – 30 dây/trụ gạch.
Khi dây tiêu leo lên hết chiều cao trụ thì hãm ngọn và xén tỉa định kỳ.

Nếu không có nhu cầu lấy hom nhân giống thì khi các dây thân ở độ cao 80 – 100cm, có 5 – 6 cành quả/1 dây thân, bấm ngọn lần đầu để kích thích sự phát triển thêm dây thân. Bấm ngọn bằng cách cắt bỏ phần ngọn tiêu mang 1 – 2 cành quả. Sau khi bấm ngọn lần đầu nếu trên trụ tiêu vẫn chưa có đủ số dây thân cần thiết/trụ thì sau khi dây thân mới có từ 3 – 5 cành quả tiếp tục bấm ngọn lần thứ  hai.

* Đối với tiêu trồng bằng dây lươn

Tiêu trồng bằng dây lươn phải áp dụng biện pháp đôn dây tiêu vào 12 – 14 tháng sau trồng. – Sau khi tiêu leo lên trụ được 1,4 – 1,5 m và các dây tiêu đã phát sinh được 2 – 3 cành quả ở ngọn thì đôn dây xuống. Chỉ đôn các dây tiêu có mang cành quả, cắt bỏ các dây không mang quả.
- Đào rãnh sâu 15 – 20cm chung quanh trụ tiêu, cách gốc tiêu 20 – 25cm, khoanh phần dây thân đã cắt hết lá vào rãnh, chừa đoạn ngọn dây có mang lá và cành quả buộc áp vào trụ tiêu.
- Sau đó lấp một lớp đất mỏng để giữ cho khoanh dây được đôn nằm cố định.
- Sau khi rễ từ đốt của các khoanh dây được đôn nhú ra mới vun gốc bón phân cho tiêu.

Xén tỉa cho tiêu kinh doanh

- Tỉa bỏ tất cả các dây thân, dây lươn, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu. Cành lá bộ tán tiêu cách mặt đất 10 – 15cm.
- Tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ.
- Tỉa bỏ các cành ác yếu ớt, các cành tăm nhang.

Tưới nước và thoát nước

- Tiêu trồng mới và kiến thiết cơ bản: tưới suốt mùa khô cho đến khi có mưa theo chu kỳ trên. Trong năm trồng mới, nếu mùa mưa gặp hạn dài cũng phải tưới nước cho tiêu.
- Tiêu kinh doanh: tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước.

Loại vườn

Đất Bazan

 

Lượng nước (lít/trụ)

Chu kỳ (ngày)

Tiêu trồng mới

30-40

7-10

Tiêu kiến thiết cơ bản

60-80

10-15

Tiêu kinh doanh

100-120

20-25

- Mùa mưa, vườn tiêu phải được thoát nước tốt vào các rãnh, mương tiêu nước trong lô. Vun gốc tiêu, không cho nước đọng ở gốc.

- Tủ gốc mùa khô: dùng rơm rạ hoặc các loại tàn dư thực vật khác như vỏ ngô, dây đậu, cỏ rác cây phân xanh, đậu đỗ …. Lượng rơm tủ từ 5 – 10 kg khô/trụ.

Phòng trừ dịch hại, sâu bệnh

Phòng trừ bệnh hại

Bệnh vàng lá chết chậm (tuyến trùng Meloidogyne incognita, Pratylenchus sp phối hợp với các loại nấm như Fusarium solani,, Rhizoctonia solani)

- Triệu chứng: cây vàng từ từ, sinh trưởng kém hoặc ngừng sinh trưởng, rễ tiêu có nốt sưng, nếu nặng thì thối đen và chết, hệ thống rễ giảm.

-Xử lý: đào, đốt các cây bị bệnh nặng. Xử lý các cây vừa chớm bệnh và các cây xung quanh vùng bệnh bằng một trong các loại thuốc sau: Vimoca 20 ND, Marshal 200 SC, Oncol 20 EC (0,3%, 2 lít dung dịch/trụ); Nokaph, Marshal 5 G, Oncol 5 G (30-50g/trụ). Nên kết hợp với một trong các loại thuốc trừ nấm sau:   Viben C 50 BTN,  Bendazol 50 WP (0,3%, 2 lít dung dịch/trụ). Tưới hoặc rải thuốc   2 – 3 lần, cách nhau 1 tháng.

Bệnh chết nhanh (nấm Phytophthora sp)

- Triệu chứng: cây đang xanh tốt, lá úa vàng, héo rũ, chết khô cùng với dây trên cây. Phần thân ngầm tiếp giáp với mặt đất bị thối đen.

- Xử lý: phòng trừ bằng cách phun dung dịch  Bordeaux 1% lên lá và tưới vào gốc (2 lít dung dịch/trụ), 3 – 4 lần trong mùa mưa, cách nhau 1 tháng. Đào, đốt kịp thời các cây bệnh nặng. Xử lý các cây chớm bệnh và các cây xung quanh vùng bệnh bằng một trong các loại thuốc sau: Aliette  80WP, Ridomil MZ 72 BHN, Mataxyl 25 WP (0,3%, 3 – 5 lít dung dịch/trụ), phun lên lá và tưới vào đất 2 – 3 lần, cách nhau 1 tháng.

Bệnh xoăn lùn (do virus, lá xoăn, nhỏ, ngọn rụt lại)

- Triệu chứng: cây bị bệnh có lá nhỏ, cong queo, mất diệp lục, thường xuất hiện ở các lá non. Cây cằn cỗi, chậm phát triển hoặc không phát triển, năng suất thấp.

- Xử lý: để phòng bệnh này không lấy giống từ các vườn có cây bị bệnh virus. Khi cây đã bị bệnh thì không thể cứu chữa, cần nhổ và hủy bỏ cây bệnh để hạn chế sự lây lan. Phun thuốc trừ rầy, rệp như Bassa 50EC (0,1%) hay Vibasa 50ND (0,2%), Suprathion 40EC (0,2%), Supracide 40EC (0,2%), Subatox 75EC (0,2%) để diệt côn trùng môi giới.

Các bệnh hại lá như bệnh thán thư, bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, bệnh đốm rong trên lá: Dùng một trong các loại thuốc sau: Tilt 250 EC, Tilt Super 300 ND, Derosal 50 SC, Viben C 50 BTN (0,2%), phun 2-3 lần, cách  nhau 1 tháng.

Phòng trừ sâu bệnh

Rệp sáp hại rễ (Pseudococcus citri)

- Triệu chứng: cây chuyển vàng từ từ, sinh trưởng kém và bị nặng thì ngừng phát triển. Bới phần thân ngầm và rễ thì thấy rệp sáp trắng bám vào. Cây bị nặng rệp sáp tạo thành măng sông làm rễ tiêu xù xì, phồng to lên, bên trong lớp măng xông rất nhiều rệp sáp.

- Xử lý: đào, đốt các cây bị hại nặng. Tưới vào gốc các cây bị rệp nhẹ bằng một trong các loại thuốc Bi 58 40 EC, Ofatox 400 EC, Subatox 75 EC (0,3%, 2 lít dung dịch/trụ), tưới 2 lần cách nhau 1 tháng, nên kết hợp với 1% dầu lửa.

Các loại rầy, rệp hại lá, đọt non, bông tiêu:

-Rệp muội, bọ xít lưới, rầy xanh: dùng một trong các loại thuốc sau: Bi 58 40 EC, Ofatox 400 EC, Subatox 75 EC (0,3%) phun 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

-Rệp sáp hại lá, hại chùm quả: dùng một trong các loại thuốc sau: Suprathion 40 EC, Supracid 40 EC, Pirinex 20 EC, Subatox 75 EC (0,3%) phun 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

Thu hoạch, bảo quản

          Tiêu được thu hái bằng tay và được hái từ 2 – 3 đợt trong 1 vụ thu hoạch. Để chế biến tiêu đen, tiêu được hái cả chùm trái khi chùm có lác đác quả chín hoặc chùm quả đã chuyển sang xanh vàng. Không thu hái các chùm xanh non trừ đợt hái tận thu lần cuối. Có thể dùng kéo cắt hay bấm rời chùm quả ở đoạn cuống chùm, không rứt chùm quả khỏi cành quả gây vết thương ở các đốt mang chùm quả.

Chế biến tiêu đen

Chùm quả tiêu thu về đem tuốt lấy quả ngay hay có thể để dồn lại 2 – 3 ngày mới tuốt. Hạt tiêu được phơi trên sân xi măng có trải bạt để giữ vệ sinh và tránh lẫn cát, đá. Lập rào lưới cản cao 2m chung quanh sân phơi trong thời gian phơi, ngăn không cho súc vật đi qua để lại chất thải trong sản phẩm. Không mang giày dép dính đất bẩn vào sân phơi tiêu. Tiêu phơi lớp dày 2 – 3 cm, đảo đều 4 – 5 lần/ngày, phơi 3 -  4 ngày nắng thì khô. Hạt nhăn đều, đen, đạt độ ẩm từ 12 – 13% mới đem bảo quản.

Hạt tiêu phơi khô, sàng sảy sạch rồi đóng vào bao để cất giữ trước khi bán.  Chú ý chỉ đóng bao khi hạt tiêu đã nguội. Đóng bao 2 lớp, lớp ni lông bên trong và bao sợi bên ngoài để chống hút ẩm trở lại tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển làm giảm chất lượng tiêu đen. Các bao tiêu được tồn trữ ở kho mát, thoáng, khô ráo.

Chế biến tiêu trắng

Cách chế biến tiêu trắng thủ công là để tiêu chín già, chùm có hơn 50% trái chín đỏ mới hái, đem ủ 2 – 3 ngày sau đó tách hạt, bỏ vào bao đem ngâm ở giòng nước chảy, hay trong bể, thay nước hàng ngày. Ngâm từ 7 – 10 ngày cho đến khi vỏ nát rời, cho tiêu vào rỗ hay máy xát kỹ sau đó đãi hết vỏ và phơi 1 – 2 nắng trên nong, nia đến khi hạt có độ ẩm 12 – 13% là được.

Ngoài ra tiêu trắng còn được chế biến công nghiệp từ tiêu đen loại có dung trọng 570g/lít. Tiêu đen được ngâm nước trong vòng 4 ngày, sau đó được ủ chung với men vi sinh vật, cho lên men ở nhiệt độ 420C để vỏ tiêu đen bám vào hạt mau nát rời ra, sau đó đưa vào máy xát vỏ rồi rửa sạch. Hạt tiêu sau khi đãi sạch vỏ có màu vàng ngà. Theo yêu cầu của thị trường người ta có thể làm trắng bằng cách ngâm trong H202 2% trong vòng 30 phút để oxy hoá chất hữu cơ và chất màu. Sau khi làm trắng tiến hành phơi hoặc sấy hạt tiêu ở nhiệt độ 50 – 60 0C trong nhiều giờ liên tục để hạt đạt độ ẩm 12%.

Hạt tiêu sau khi phơi/sấy xong để nguội và đóng bằng bao PP, đưa vào kho để bảo quản. Kho chứa không ẩm ướt, phải thoáng mát, bao tiêu được kê cách sàn 15 – 20cm, cách tường 0,5m.

Thư viện ảnh

                                                                        
1350361447_news.jpg
HOTIEU_HAT.jpg
vuon-tieu2.jpg
ho-tieu-2d5d8.JPG


Chia sẻ trên facebook   Chia sẻ trên twitter   Gửi email   Xem bản in của bài viết để in ra
MỜI ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT
Thích  
Tài liệu tham khảo
​Kỹ thuật và bí quyết trồng cây công nghiệp-Nhà xuất bản nông nghiệp